Hiển thị các bài đăng có nhãn hải quan. Hiển thị tất cả bài đăng

Chật vật xuất khẩu nông - thủy sản

Tổng cục Hải quan vừa công bố số liệu thống kê mới nhất về tình hình xuất nhập khẩu cả nước trong 4 tháng đầu năm. Theo đó, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 4 tháng đạt 79 tỉ USD, riêng xuất khẩu đạt 39,14 tỉ USD, tăng 16%; nhập khẩu 39,86 tỉ USD, tăng 17%. Cán cân thương mại cả nước đã chuyển từ thặng dư trong mấy tháng đầu năm sang thâm hụt với mức nhập siêu 723 triệu USD. 

Dù kim ngạch xuất khẩu cả nước vẫn tăng khá nhưng nhóm hàng nông - thủy sản đang có sự sụt giảm cả về giá, lượng. Cụ thể, hàng thủy sản hết tháng 4 đạt 1,73 tỉ USD, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước; tại các thị trường chủ lực như Liên hiệp châu Âu, Nhật Bản, kim ngạch đều giảm mạnh. Lượng xuất khẩu cà phê 4 tháng là 588.000 tấn, trị giá 1,26 tỉ USD, giảm 16,3% về lượng và giảm 13,9% về giá trị so với cùng kỳ. Đây là mặt hàng nông sản giảm mạnh nhất trong tháng 4-2013 với mức giảm 203 triệu USD. Đối với gạo, dù lượng xuất khẩu cả nước tăng nhẹ nhưng do giá giảm mạnh trong tháng 4 nên kim ngạch giảm 5,2% so với cùng kỳ năm ngoái… 

Đưa gạo xuống tàu xuất cảng ở Cần Thơ
Đưa gạo xuống tàu xuất cảng ở Cần Thơ
Theo bà Phan Thị Diệu Hà, Cục phó Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương, do giá cả hàng hóa thế giới đang trong xu hướng giảm khiến nhóm hàng nông - thủy sản giảm khoảng 129 triệu USD. Từ nhiều năm qua, các mặt hàng nông sản chủ lực của nước ta luôn tăng về xuất khẩu nhưng giá lại theo chiều hướng ngược lại, trong khi mọi chi phí đầu vào đều tăng gây khó khăn cho người sản xuất, nông dân. 

PGS-TS Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, cho rằng nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do khâu sản xuất thiếu sự liên kết. Với một mặt hàng, mỗi nơi làm một kiểu làm cho thành phẩm không theo chuẩn thống nhất, chất lượng không đồng đều nên khó xây dựng thương hiệu. Trong khi đó, các cơ quan quản lý, hiệp hội chỉ mới “khuyến cáo, khuyến khích”, còn làm thế nào thì... tùy nông dân!

Thời gian tới, xuất khẩu sẽ còn nhiều thách thức khi giá một số mặt hàng chủ lực là gạo, thủy sản giảm mạnh. Ngoài những rào cản thương mại và yêu cầu chất lượng ngày càng khắt khe hơn từ các nước nhập khẩu, việc thiếu ổn định nguồn nguyên liệu cũng như chất lượng sản phẩm... sẽ khiến nông - thủy sản Việt Nam khó thoát được cảnh chật vật.

Doanh nghiệp FDI chiếm gần 100% nhiều hàng hoá xuất khẩu

Trong nhiều mặt hàng thuộc nhóm hàng hoá có kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong 4 tháng đầu năm nay, xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm đến 90-100%, theo số liệu hải quan công bố hôm 15-5.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 39,1 tỉ đô la Mỹ, tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu tăng chủ yếu nhờ các nhóm hàng như điện thoại và linh kiện, dệt may, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện,...

Nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch cao nhất trong 4 tháng/2013 so với 4 tháng/2012
Nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch cao nhất trong 4 tháng/2013 so với 4 tháng/2012
Nguồn: Tổng cục Hải quan.

Trong nhiều mặt hàng có kim ngạch cao thuộc nhóm trên, xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp FDI chiếm phần lớn, đến gần 100%.

Chẳng hạn như, với mặt hàng điện thoại, xuất khẩu của doanh nghiệp FDI chiếm 98,3% với kim ngạch 5,8 tỉ đô la Mỹ. Ngoài ra, xuất khẩu của doanh nghiệp FDI chiếm 96,5% trong nhóm hàng máy vi tính và sản phẩm điện tử (3 tỉ đô la Mỹ), chiếm 91% trong nhóm phương tiện vận tải và phụ tùng (1,6 tỉ đô la Mỹ), và chiếm 88,2% trong nhóm hàng hoá máy móc thiết bị (1,4 tỉ đô la Mỹ).

Đối với hai mặt hàng vốn là thế mạnh xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước, thì doanh nghiệp FDI cũng chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu, là dệt may và giày dép với tỉ lệ lần lượt là 59% (2,9 tỉ đô la Mỹ) và 78% (1,8 tỉ đô la Mỹ).

Thống kê Hải quan giúp VASEP thắng kiện CBPG

Theo đánh giá của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong suốt 10 năm qua (2003 - 2013) Tổng cục Hải quan đã và đang hỗ trợ có hiệu quả khi định kỳ hàng tháng cung cấp số liệu thống kê xuất nhập khẩu (XNK) thủy sản, qua đó đã góp phần để ngành thủy sản khẳng định việc không bán phá giá vào Hoa Kỳ.

Những số liệu thống kê XNK thủy sản mà Tổng cục Hải quan cung cấp cho Hiệp hội đã tạo sự chủ động, cân bằng và góp phần thắng lợi trong các vụ kiện chống bán phá giá cá tra và tôm mà Mỹ khởi kiện từ năm 2002 đến nay. Đây là cơ sở để Hiệp hội và các hội viên chủ động để theo và chống kiện. Kết quả các đợt xem xét hành chính hàng năm của Bộ Thương mại Mỹ đều cho kết quả mức thuế áp cho cá tra và tôm đều thấp hoặc bằng 0%, khẳng định hai sản phẩm chủ lực của Việt Nam không bán phá giá. 

VASEP khẳng định: Số liệu thống kê của Hải quan là tiền đề và cơ sở quan trọng cho Việt Nam thắng kiện Hoa Kỳ tại Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) về các biện pháp Hoa Kỳ áp dụng trong tính toán thuế chống bán phá giá tôm, cũng như định hướng và dự báo thị trường cho ngành và các DN, hỗ trợ đáng kể việc gia tăng XK và năng lực cạnh tranh của ngành… 

Để tăng cường sự hợp tác giữa hai bên, từ đầu năm 2013, Tổng cục Hải quan và VASEP đã ký thỏa thuận hợp tác với nhiều nội dung quan trọng như: Phối hợp trong việc thu thập, phản ánh nhanh các thông tin và ý kiến có liên quan của các DN XNK thủy sản góp ý với cơ quan Hải quan, đồng thời tuyên truyền, phổ biến đến DN thủy sản các quy định, chính sách có liên quan đến công tác quản lý hải quan về XNK thủy sản; thu thập, xử lý, cung cấp số liệu thống kê về tình hình XNK thủy sản và các thông tin liên quan phục vụ cho nhu cầu của ngành thủy sản. 

VASEP cũng phối hợp với Tổng cục Hải quan hỗ trợ và khuyến khích các DN XNK triển khai ngày càng rộng rãi việc ứng dụng công nghệ thông tin để làm thủ tục hải quan qua mạng. Đến tháng 3/2013, nhiều DN thủy sản đã áp dụng thủ tục hải quan điện tử, đồng thời đã có 2 DN thủy sản đạt tiêu chí DN ưu tiên (trong tổng số 14 DN ưu tiên trên toàn quốc ở tất cả các ngành hàng). 

Bên cạnh đó, hàng năm Hiệp hội đều tổ chức đánh giá và lấy ý kiến các DN hội viên về các vướng mắc, khó khăn trong hoạt động sản xuất, XK, bao gồm cả lĩnh vực hải quan và thuế. Qua đó, một mặt sẽ tổng hợp và kiến nghị kịp thời tới các cơ quan quản lý nhà nước, một mặt tăng cường tuyên truyền, khuyến khích các DN tuân thủ tốt các quy định hiện hành về Thuế và Hải quan...

Hàng tạm nhập lưu giữ tại VN không được quá 45 ngày

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 59/2013/TT-BTC hướng dẫn thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với một số loại hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất (TNTX), chuyển khẩu và gửi kho ngoại quan.

Hoạt động nghiệp vụ tại Cục Hải quan Hải Phòng
Hoạt động nghiệp vụ tại Cục Hải quan Hải Phòng.
Theo Thông tư 59, thời hạn hàng hóa kinh doanh TNTX được phép lưu giữ tại Việt Nam không quá 45 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập. Trường hợp cần kéo dài thời hạn lưu lại tại Việt Nam, thương nhân có văn bản đề nghị gửi chi cục hải quan cửa khẩu nơi làm thủ tục tạm nhập hàng hóa, việc gia hạn được thực hiện 1 lần và không quá 15 ngày.

Quá thời hạn được phép lưu giữ tại Việt Nam thương nhân chỉ được tái xuất qua cửa khẩu tạm nhập trong vòng 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn được phép lưu giữ tại Việt Nam (không được phép TX qua cửa khẩu khác cửa khẩu TN).  Hàng sẽ bị tịch thu và xử lý theo quy định nếu không TX.

Thông tư 59 cũng quy định, hàng hóa kinh doanh TNTX  phải lưu giữ trong khu vực cửa khẩu, khu vực cảng nội địa (ICD) hoặc kho ngoại quan thuộc khu vực cửa khẩu TN hoặc cửa khẩu TX (đối với trường hợp đã hoàn thành thủ tục TX). Riêng hàng hóa là thực phẩm đông lạnh kinh doanh TNTX đã hoàn thành thủ tục TN được phép lưu giữ tại các khu vực kho, bãi thuộc địa bàn hoạt động hải quan của chính thương nhân đã được Bộ Công Thương cấp mã số kinh doanh TNTX.

Thông tư 59 cho phép hàng hoá tạm nhập có thể được chia thành nhiều lô hàng để tái xuất, không cho phép chia nhỏ container trong suốt quá trình vận chuyển hàng hóa từ cửa khẩu TN đến khu vực giám sát của cơ quan Hải quan tại cửa khẩu TX.

Tuy nhiên, thương nhân được phép thay đổi hoặc chia nhỏ container nếu hàng hóa, phương tiện đáp ứng các điều kiện về địa điểm lưu giữ; container hoặc phương tiện vận tải hàng hóa phải đảm bảo điều kiện niêm phong giám sát hải quan; hàng hóa trong thời gian chuyển sang container hoặc phương tiện vận tải khác phải chịu sự giám sát trực tiếp của công chức hải quan.

Hàng hoá TX đã hoàn thành thủ tục hải quan phải được tập kết đầy đủ tại khu vực cửa khẩu và TX qua cửa khẩu trong thời hạn 8 giờ làm việc kể từ khi hàng đến cửa khẩu xuất, trường hợp chưa thể xuất được hoặc chưa xuất hết, nếu thương nhân có văn bản đề nghị thì chi cục trưởng hải quan cửa khẩu xuất xem xét gia hạn để xuất khẩu hết trong các ngày kế tiếp, nhưng phải trong thời hạn lưu giữ tại Việt Nam. Trong thời gian chờ tái xuất tiếp, hàng hóa phải được lưu giữ trong khu vực cửa khẩu (bao gồm cả địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất khẩu được Tổng cục Hải quan công nhận tại khu kinh tế cửa khẩu), khu vực cảng nội địa ICD hoặc kho ngoại quan thuộc khu vực cửa khẩu.

Thông tư 59 quy định rõ về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng kinh doanh chuyên khẩu; hàng gửi kho ngoại quan. Trong đó, hàng gửi kho ngoại quan phải chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan Hải quan trong thời gian vận chuyển trên lãnh thổ Việt Nam và lưu giữ trong kho ngoại quan tại Việt Nam.

Hàng hóa đưa vào kho ngoại quan tại khu vực khác cửa khẩu nhập hoặc đưa ra kho ngoại quan tại khu vực khác cửa khẩu xuất thì phải được niêm phong hải quan.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22-6.