Hiển thị các bài đăng có nhãn doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Xuất khẩu của Singapore giảm nhẹ trong tháng Tư

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa phi dầu mỏ của Singapore trong tháng Tư vừa qua đã giảm 1% so với cùng kỳ năm ngoái, trong bối cảnh ngành hàng điện tử xuất khẩu tiếp tục sụt giảm.

Mặc dù vậy, theo thống kê được Cục Phát triển Doanh nghiệp quốc tế (IES) thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore công bố hôm cuối tuần, mức giảm sút này nhẹ hơn so với mức giảm 4,8% hồi tháng Ba vừa qua.

Tuy nhiên, nếu tính theo từng tháng thì tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Singapore đang chậm dần. Giá trị xuất khẩu hàng hóa chỉ tăng 1,1% so với tháng Ba, và thấp hơn nhiều so với mức tăng 8% của tháng Ba so với tháng Hai.

Theo IES, kim ngạch xuất khẩu của Singapore sang châu Âu, Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản và Indonesia trong tháng Tư đều thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái.

Tuy nhiên, lượng hàng hóa xuất sang Hong Kong (Trung Quốc), Thái Lan, Mỹ, vùng lãnh thổ Đài Loan và Trung Quốc đại lục lại tăng lên.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu trong tháng Tư của Singapore tiếp tục sụt giảm, song theo nhận định của một số chuyên gia kinh tế, kim ngạch xuất khẩu của "quốc đảo Sư tử" là rất khó dự đoán bởi các ngành dược phẩm và dầu mỏ chiếm một một tỷ trọng đáng kể trong xuất khẩu lại có thể thay đổi đột ngột giá trị theo từng tháng./.

Xuất khẩu điều hợp tác với tập đoàn bán lẻ Mỹ

Hơn 10 doanh nghiệp xuất khẩu điều Việt Nam đã thỏa thuận hợp tác, cung cấp sản phẩm chế biến từ hạt điều để phân phối tại các siêu thị, cửa hàng tiện ích của Tập đoàn bán lẻ Kroger ở Mỹ.

Thông tin này do ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam, cung cấp sau buổi làm việc với đại diện của Kroger ngày 14-5.

Theo ông Thanh, Kroger là tập đoàn bán lẻ lớn thứ hai tại Mỹ với doanh số bán hàng hằng năm ước gần 100 tỉ USD. Tập đoàn này đang sở hữu 2.400 siêu thị, 800 cửa hàng bán lẻ tiện lợi đặt tại 31 bang trên khắp nước Mỹ.

Về phía Kroger, Giám đốc thu mua Miguel Marcano cho biết ngoài việc thu mua hàng thành phẩm để phân phối, Kroger còn xúc tiến thu mua nguyên liệu để chế biến thực phẩm. Dự kiến sản lượng nguyên liệu thu mua sẽ còn tăng thêm vào những năm tới vì tập đoàn đang phát triển gần 40 nhà máy đặt tại các thành phố lớn của Mỹ.

Ngành mía đường lại thua đau

Bộ Công Thương mới cho phép các doanh nghiệp mía đường xuất khẩu sản phẩm tiểu ngạch sang Trung Quốc thì đường Thái Lan đã đổ bộ vào Việt Nam theo dạng tạm nhập tái xuất rồi sang Trung Quốc qua các cửa khẩu tiểu ngạch. Điều này cũng đồng nghĩa, đường Việt Nam mất thị trường nội địa, vừa mất luôn thị trường xuất khẩu gần như duy nhất.

TS.Hà Hữu Phái, Trưởng Văn phòng Hiệp hội Mía đường Việt Nam tại Hà Nội cho biết, tính từ đầu niên vụ đến 13/5/2013, toàn ngành mía đường đã ép được 15.500.000 tấn mía, cho sản lượng 1.442.800 tấn đường. Trong số 41 nhà máy đường hầu hết đã kết thúc vụ sản xuất, chỉ còn 6 nhà máy sẽ tiếp tục hoạt động đến hết tháng 5. Dự tính cả niên vụ sẽ sản xuất được khoảng 1,5 triệu tấn đường.

Tồn kho đường đã lên cao nhất từ trước tới nay, lượng đường tồn kho tại các nhà máy tính đến 3/5/2013 còn 579.818 tấn. Chưa kể lượng đường tồn kho tại các công ty thương mại trong hệ thống Hiệp hội Mía đường khoảng 28.000 tấn và các hệ thống phân phối. Ước tính, tổng lượng đường tồn kho thời điểm này lên đến 600.000 tấn.

Đường tồn kho tại các nhà máy tính đến 3/5/2013 còn 579.818 tấn
Đường tồn kho tại các nhà máy tính đến 3/5/2013 còn 579.818 tấn
Do tiêu thụ khó khăn, giá bán đường của các nhà máy thấp hơn rất nhiều so với năm 2012. Năm ngoái, giá đường bán tại kho các nhà máy có lúc lên tới 19.000 đồng/kg, cùng thời điểm này là 16.500-17.000 đồng/kg.

Thế nhưng tháng 3/2013, giá đường bán buôn tại kho các nhà máy xuống chỉ còn 13.000 - 13.500 đồng/kg. Từ đầu tháng 5 đến nay, giá đường đã nhích lên nhưng vẫn rất thấp, hiện đường kính trắng ở mức 14.500 - 14.900 đồng/kg, đường tinh luyện 15.500-16.000 đồng/kg. Trên thị trường thế giới, giá đường đã giảm 18% trong vòng một năm qua và đang tiếp tục chịu áp lực giảm giá do cung vượt cầu.

Có một nghịch lý, trong khi đường bán tại các nhà máy giảm giá mạnh thì đường bán lẻ vẫn không giảm. Tại các siêu thị ở Hà Nội, giá đường tinh luyện những ngày qua vẫn ở mức cao 21.000 - 22.000 đồng/kg, đường tinh luyện Biên Hòa là 22.500 đồng/kg. Tại các chợ và cửa hàng bán lẻ, giá đường tinh luyện từ 22-24.000 đồng/kg.

Rõ ràng, giá bán ở nhà máy đến tay người tiêu dùng chênh lệch tới 4-7.000 đồng/kg. Theo phản ánh, hệ thống siêu thị Hà Nội gần như không tiếp cận được nhà máy mà chỉ mua qua các đại lý cấp 1, cấp 2.

Do vậy, mỗi cấp đại lý lại đội giá lên khiến giá đường bán cho người tiêu dùng ở mức cao. Để hạn chế và khắc phục tình trung gian đội giá trong chuỗi tiêu thụ đường, Hiệp hội Mía đường sẽ cùng với Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) xúc tiến xây dựng Nghị định về quản lý mía đường trong năm 2013.

Ông Phái nhận định, lượng tồn kho hiện nay đã tới đỉnh, trong những tháng tới sẽ giảm dần do hết vụ sản xuất. Tuy nhiên từ nay đến hết tháng 8/2013, khó có thể tiêu thụ hết lượng đường tồn kho trước khi vào niên vụ sản xuất mới bởi trung bình mỗi tháng, cả nước chỉ tiêu thụ khoảng trên 100.000 tấn.

Lối thoát duy nhất để giải quyết bài toán tiêu thụ cho ngành đường là phải chặn triệt để dòng đường nhập lậu ở biên giới Tây Nam đồng thời thúc đẩy xuất khẩu qua các cửa khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc.

Năm ngoái, khi Nhà nước chưa cho phép xuất khẩu đường tiểu ngạch, vẫn có một số công ty tìm cách xuất “chui” nhưng phải “làm luật” tới 320 đồng/kg và bị phía Trung Quốc ép giá mua xuống thấp khiến doanh nghiệp Việt Nam thua thiệt rất nhiều. Hiệp hội Mía đường đã phải kiến nghị, xin cho xuất khẩu đường tiểu ngạch qua các cửa khẩu phụ, lối mòn.

Mãi đến 8/3/2013, Bộ Công Thương mới cho xuất khẩu đường kính trắng qua cửa khẩu phụ Bản Vược, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Đường xuất tiểu ngạch chỉ được thực hiện từ tháng 3 đến 20/6/2013 với khối lượng 200.000 tấn. Mặc dù muộn nhưng điều này vẫn có tác dụng tốt cho thị trường tiêu thụ đường đến thời điểm hiện tại.

Tuy nhiên, đến nay các nhà máy đường mới xuất khẩu được chừng 25.000 tấn mà chỉ còn 1,5 tháng nữa là hết thời hạn thì con số xuất khẩu 200.000 tấn là quá xa vời. Trong khi đó, đường Thái Lan đã đổ bộ vào Việt Nam theo dạng tạm nhập tái xuất, vận chuyển bằng tàu thủy đến cảng Hải Phòng rồi đưa bằng đường bộ lên Lào Cai sang Trung Quốc qua cửa khẩu phụ Bản Vược.

TS. Hà Hữu Phái than thở, “Mỗi năm đường Thái Lan nhập lậu qua biên giới lên tới 400-500 ngàn tấn và làm sản phẩm đường Việt Nam mất đáng kể thị trường trong nước. Hiệp hội đã phải xin xuất khẩu qua chính sách đối với cư dân biên giới. Nào ngờ đường Thái Lan tiếp tục lấn tới, áp dụng kế sách “mượn đường diệt Quắc” nổi danh trong lịch sử Trung Quốc, mượn đường Việt Nam để đưa hàng vào Trung Quốc, khiến chúng ta thua đau”.

Trong công văn của Hiệp hội Mía đường Việt Nam gửi Chính phủ cuối tháng 4/2013 nêu rõ: “Nếu cho tạm nhập tái xuất mặt hàng đường sang Trung Quốc theo tuyến biên giới, chắc chắn đường của Thái Lan sẽ thay đường sản xuất trong nước để sang Trung Quốc, đồng nghĩa với việc Việt Nam vừa mất thị trường nội địa, vừa mất luôn thị trường xuất khẩu gần như duy nhất của nước ta. Do vậy, Hiệp hội Mía đường kiến nghị Chính phủ không cho phép tạm nhập tái xuất đường, đặc biệt là tạm nhập tái xuất qua cửa khẩu phụ Bản Vược và các địa phương có biên giới giáp với Trung Quốc”.

Ngày 10/5/2013, Văn phòng Chính phủ có Công văn 3702 yêu cầu Ban chỉ đạo 127 trung ương phải khẩn trương báo cáo tình hình buôn lậu đường và hoạt động tạm nhập tái xuất đường thời gian qua (làm rõ số lượng, giá trị và tình hình thanh khoản các lô hàng).

Đồng thời, các Bộ Công Thương, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham gia ý kiến đối với kiến nghị của Hiệp hội Mía đường về việc không cho phép tạm nhập tái xuất mặt hàng đường, báo cáo để Thủ tướng Chính phủ xem xét.

Cơ hội xuất khẩu hàng dệt may sang Brazil

Billie Brothers là công ty hàng đầu về thời trang tại Brazil. Công ty có một chuỗi cửa hàng bán lẻ lớn tại phía Nam Brazil chuyên phân phối các sản phẩm dệt may của Brazil, các nước Nam Mỹ, Trung Quốc...Hiện công ty muốn tìm kiếm đối tác Việt Nam để nhập khẩu các sản phẩm dệt may với số lượng lớn và đơn hàng ổn định (tối thiểu 5000 sản phẩm mỗi mẫu).

Một số hình ảnh sản phẩm mẫu của công ty mời tham khảo tại đây.
Đại diện công ty dự kiến sẽ sang Việt Nam vào tháng 6 tới để gặp gỡ và làm việc trực tiếp với một số doanh nghiệp dệt may Việt Nam. 
Các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, mời gửi thông tin theo mẫu sau (Mau_thong_tin_doanh_nghiep.xls ) vào địa chỉ: vietradeportal@gmail.com hoặc hienpc@vietrade.gov.vn trước ngày 24/05/2013.

Thông tin chi tiết xin liên hệ:
Cục Xúc tiến Thương mại
Trung tâm Hỗ trợ xuất khẩu- Phòng TT&TVDN
ĐT: 04-39364792 ( số lẻ :117- anh Hiển ) , Di động: 0169.608.4195.
Email: Vietradepotal@gmail.com

Xuất khẩu rau quả có thể đạt 1 tỷ USD năm nay

Trong bối cảnh kinh tế tiếp tục khó khăn, diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro, Hiệp hội Rau quả Việt Nam đã đưa ra dự báo, nhu cầu tiêu thụ rau quả thế giới tiếp tục tăng từ 3,5-5% và ngành rau quả đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 1 tỷ USD trong năm 2013.

Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, xuất khẩu rau quả những tháng đầu năm 2013 đã có những tín hiệu đáng mừng. Kim ngạch xuất khẩu quý 1 đạt 187 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2012.

Xuất khẩu rau quả quý 1 đạt 187 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2012
Xuất khẩu rau quả quý 1 đạt 187 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2012
Đến nay, rau quả Việt Nam đã có mặt ở 40 thị trường trên thế giới. Ông Huỳnh Quang Đấu, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thực phẩm rau quả An Giang phấn khởi cho biết, xuất khẩu 4 tháng đầu năm của công ty đạt 5 triệu USD, tăng 30% so với cùng kỳ. Điều đáng mừng là số lượng và giá trị xuất khẩu đều tăng.

Tương tự, ông Trần Ngọc Hiệp, Giám đốc Công ty TNHH Thanh Long Hoàng Hậu Bình Thuận chia sẻ, số lượng xuất khẩu 4 tháng đầu năm tăng 20% và tăng 30% về giá trị so với cùng kỳ năm trước, các thị trường xuất khẩu chính là EU, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan... Ông nhận định, thị trường xuất khẩu cho trái thanh long hiện đang thuận lợi và tiếp tục triển vọng trong những năm tiếp theo. Quan trọng là cần kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật để tăng cơ hội xuất khẩu vào những thị trường khó tính.

Ông Nguyễn Văn Ngã, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 2 cho biết, trung bình mỗi tuần hiện có khoảng 3.000 tấn rau quả xuất sang thị trường EU. Tương tự, những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc cũng đã chấp nhận mặt hàng trái cây Việt Nam như chôm chôm, thanh long...

Đối với thanh long, từ khi Mỹ thực hiện kiểm dịch vào năm 2008 đến nay có khoảng 2.430 tấn xuất sang thị trường này; 1.223 tấn sang Nhật (tính từ 10/2009 đến nay) và 256 tấn vào thị trường Hàn Quốc (tính từ 2/2011).

 Việt Nam cũng đang đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tươi và Chi cục cũng yêu cầu các đơn vị nên lấy hàng từ vùng trồng theo mô hình GAP để có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khó tính.

Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, rau quả Việt Nam có tiềm năng lớn về xuất khẩu và dự báo nhu cầu tiêu thụ rau quả thế giới  tiếp tục tăng từ 3,5-5%. Theo đó, ngành đặt mục tiêu xuất khẩu năm 2013 là 1 tỷ USD so với năm 2012 đạt 829 triệu USD. Tuy nhiên trong bối cảnh kinh tế thế giới còn khó khăn, doanh nghiệp cần nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và an toàn vệ sinh thực phẩm.

Với tư cách Phó chủ tịch Hiệp hội, ông Đấu cho rằng “5 năm trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu rau quả đều có sự tăng trưởng, nếu doanh nghiệp xuất khẩu đoàn kết vượt khó thì Việt Nam có thể đạt 1 tỷ USD trong năm nay. Vấn đề quan trọng hiện nay là làm cho nông dân có ý thức trong sản xuất phải đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thị trường”.

Tại đại hội Hiệp hội Rau quả Việt Nam nhiệm kỳ 3 (2013-2018), hiệp hội cho rằng,  một số hạn chế hiện nay của ngành rau quả cần có giải pháp khắc phục. Như số liệu thống kê xuất nhập khẩu, từ trước đến nay hiệp hội chỉ nhận được từ Bộ Công Thương số liệu kim ngạch xuất khẩu rau quả theo thị trường, không có số liệu xuất khẩu theo khối lượng, mặt hàng hay giá xuất khẩu.

Việc thiếu số liệu làm cho công tác dự báo, dự đoán tình hình xuất khẩu và giá cả thị trường bị hạn chế. Về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, hiện các cơ sở trồng rau quả được chứng nhận VietGAP còn quá ít nên doanh nghiệp phải mua thêm hàng không có VietGAP.

Ngoài ra, doanh nghiệp rau quả hoạt động không ổn định, phần lớn là doanh nghiệp nhỏ, dễ bị tổn thương trong khủng hoảng kinh tế. Thời gian qua nhiều hội viên hiệp hội đã phá sản, thua lỗ, giải thể ngưng sản xuất, chuyển đổi ngành nghề. Các kiến nghị biện pháp phát triển ngành rau quả và bảo vệ quyền lợi hội viên tuy đã được Bộ ghi nhận nhưng mới có một số kiến nghị được giải quyết như mở cửa thị trường khó tính, bỏ thuế môi trường đối với túi nylong đựng hàng xuất khẩu...

Để đạt mục tiêu xuất khẩu năm 2013, hiệp hội đề ra một số nhiệm vụ như tổ chức liên kết hội viên trong sản xuất, kinh doanh, mua bán hàng hóa và dịch vụ. Tăng cường sinh hoạt nội bộ hội viên với các hình thức họp, tọa đàm, làm việc với các đoàn nhập khẩu trong và ngoài nước.

Công tác xúc tiến thương mại và tham gia các chương trình hội chợ trong và ngoài nước, đoàn khảo sát thị trường nước ngoài, quảng bá hàng nông lâm sản cũng sẽ được đẩy mạnh.

Dự kiến sản phẩm rau quả trái cây của Việt Nam sẽ được quảng bá đến các hội nghị tham tán Việt Nam ở các nước tổ chức tại Việt Nam và thương vụ Việt Nam ở nước ngoài. Hiệp hội sẽ tổ chức nhiều hội chợ rau quả xuất khẩu trong và ngoài nước để quảng bá cho rau quả Việt Nam. Ngoài ra, cung cấp thông tin dự báo, làm việc với Bộ Công Thương về việc cung cấp số liệu xuất nhập khẩu rau quả...

Xuất khẩu cao su giảm mạnh

Xuất khẩu cao su trong 4 tháng đầu năm đã suy giảm mạnh cả về khối lượng và giá bán, kim ngạch giảm tới 24,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất săm lốp đã phải chi tới 243 triệu USD để nhập khẩu cao su nguyên liệu, khiến thặng dư thương mại của ngành cao su còn chưa tới 370 triệu USD.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông, khối lượng cao su xuất khẩu tháng 4/2013 ước đạt 44 ngàn tấn, trị giá 101 triệu USD, đưa lượng xuất khẩu 4 tháng đầu năm lên 234 ngàn tấn với giá trị 610 triệu USD; giảm 12,9% về khối lượng và giảm 24,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2012. Giá cao su xuất khẩu bình quân quý 1 là 2.683 USD/tấn, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong tháng 4, giá cao su xuất khẩu vẫn diễn biến theo chiều hướng giảm. So với tuần đầu tháng 4, giá cao su SMR 3L tuần cuối tháng 4 chỉ đạt 2.780 USD/tấn, tương đương giảm 1,8%. 

Xuất khẩu cao su giảm mạnh
Xuất khẩu cao su giảm mạnh
Mặc dù thị trường Trung Quốc vẫn là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, nhưng giảm tới 20,3% về khối lượng và giảm 22,4% về giá trị so với cùng kỳ 2012. Khối lượng cao su xuất khẩu sang Malaysia tăng 15,8%, nhưng kim ngạch cũng chỉ tương đương cùng kỳ năm trước.
Thị trường thế giới càng ảm đạm hơn bởi thông tin dự trữ cao su toàn cầu sẽ tăng lên 2,17 triệu tấn năm 2014 do sản lượng vượt tiêu thụ trong những năm tới. Dự trữ tại Thanh Đảo, trung tâm cao su lớn nhất Trung Quốc, tăng lên mức kỷ lục 366.900 tấn đến 15/4/2013.

Tại Thái Lan, nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới, các nhà sản xuất bắt đầu khai thác mủ cao su vào cuối tháng 4 khiến giá cao su Thái Lan giảm 1,5% so với đầu tháng, xuống còn chưa tới 82 Bạt (tương đương 2,84 USD)/kg.

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông cũng cho biết, giá thu mua cao su thiên nhiên trong nước đã sơ chế hiện ở mức 20.000 đồng/kg, mủ cao su thiên nhiên dạng nước ở mức 16.000 đồng/kg. Thế nhưng nông dân trồng cao su tiểu điền chỉ còn bán được với giá 9.000 đồng/kg, bằng 30% so với các năm trước.

Nguyên nhân là từ khi bước vào vụ thu hoạch chính (đầu tháng 4), thương lái liên tục ép giá người trồng cao su. Các năm trước, giá mủ cao su bình quân 27.000 đồng/kg, người nông dân còn thu lãi, nhưng với giá bán như hiện nay chỉ đủ tiền thuê nhân công thu hoạch mủ cao su.

Việt Nam là nước xuất khẩu cao su lớn thứ 3 thế giới nhưng hầu hết doanh nghiệp sản xuất săm lốp cao su đang điêu đứng vì đói nguyên liệu trầm trọng nên phải nhập nguyên liệu từ Thái Lan.

Cả nước có khoảng 220 doanh nghiệp chế biến các sản phẩm từ cao su, hàng năm tiêu thụ hàng trăm nghìn tấn cao su nguyên liệu nhưng sự liên kết giữa các doanh nghiệp kinh doanh mủ cao su và các doanh nghiệp sản xuất săm lốp hay doanh nghiệp chế biến cao su rất èo uột.

Ước khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 4/2013 đạt 24 nghìn tấn, tiêu tốn 59 triệu USD. Lũy kế tổng nhập khẩu cao su 4 tháng đầu năm 2013 đạt 101 nghìn tấn, kim ngạch 243 triệu USD.

Nguyên nhân khiến các doanh nghiệp sản xuất mủ cao su không bán sản phẩm cho các doanh nghiệp trong nước mà phải xuất khẩu, đó là do chính sách thuế đang khuyến khích doanh nghiệp cao su xuất khẩu thô thay vì chế biến sâu hoặc bán nguyên liệu trong nước.

Lãnh đạo một doanh nghiệp chuyên xuất khẩu mủ cao su ở Bình Phước cho hay: “Hiện chúng tôi xuất khẩu tới 90% sản lượng vì thuế suất với sản phẩm cao su xuất khẩu là 0%, trong khi nếu bán trong nước sẽ phải chịu thuế VAT 5%”.

Theo GS. Nguyễn Việt Bắc, Viện Hóa học Vật liệu, nếu bán cao su sơ chế thu được một đồng, đầu tư chế biến thành săm lốp thì lợi nhuận gấp 10 lần và chế biến sâu ra cao su kỹ thuật thì lợi nhuận sẽ gấp 20 lần. Thế nhưng, Việt Nam vẫn đang lãng phí nguồn vàng trắng này. doanh nghiệp cao su phần lớn của Nhà nước nhưng đến nay vẫn dừng lại ở việc trồng rừng, cạo mủ, còn quá xa để trở thành ngành công nghiệp thực sự.

Thống kê của Hiệp hội cao su Việt Nam (VRA) cho thấy, cao su xuất khẩu dưới dạng thô chiếm tới 87% sản lượng cao su cả nước. Do bán thô nên không làm chủ được giá và giá trị gia tăng cũng rất thấp.

Ban chỉ đạo Tây Nguyên vừa đưa ra kế hoạch thúc đẩy đầu tư chế biến sâu, đa dạng sản phẩm cao su ở khu vực Tây Nguyên. Theo đó, các tỉnh Tây Nguyên có diện tích trồng cao su khá lớn, trên 242.810 ha, sản lượng mỗi năm đạt 165 -170 nghìn tấn mủ, chỉ sau các tỉnh miền Đông Nam Bộ.

Từ trước tới nay, khu vực này chỉ đầu tư xây dựng các nhà máy sơ chế mủ cao su, với các sản phẩm như mủ cốm, mủ kem (Latex), mủ tờ.

Tại Đắk Lắk, đến nay đã đầu tư xây dựng một nhà máy chế biến các sản phẩm từ mủ cao su tiêu thụ nội địa và xuất khẩu (dây thun, chỉ thun...), tổng công suất 15.000 tấn sản phẩm/năm, 6 nhà máy sơ chế mủ cao su tổng công suất 40.000 tấn mủ/năm.

Các tỉnh Tây Nguyên đang kêu gọi các thành phần kinh tế trong, ngoài nước đầu tư, khuyến khích đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến sâu, đa dạng hoá sản phẩm cao su nhằm gia tăng giá trị sản phẩm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.

Nhiều chuyên gia cho rằng để cứu các doanh nghiệp sản xuất săm lốp và cũng là để ngành cao su phát triển bền vững, cần tạo sự gắn kết giữa các doanh nghiệp chế biến sản phẩm từ cao su với công ty có nguyên liệu thông qua những hợp đồng dài hạn.

Đồng thời, các cơ quan chức năng cần đưa ra cơ chế chính sách hợp lý để khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất mủ cao su tập trung chế biến sâu, tăng sản lượng, ưu tiên phát triển thị trường trong nước.

Điểm tin kinh tế, tài chính, thương mại ngày 17/5/2013

Nhu cầu vàng của Việt Nam giảm 17% trong quý I

Hội đồng vàng thế giới (WGC) vừa ra báo cáo về nhu cầu vàng thế giới trong quý I/2013. Theo báo cáo này, trong quý I, nhu cầu vàng thế giới giảm 13% xuống nhất 9 năm còn 963 tấn trong quý I, từ 1.107,5 tấn cùng kỳ năm ngoái. Tổng nhu cầu đầu tư giảm 49% xuống còn 200,8 tấn, chủ yếu do các quỹ tín thác bán tháo gần 177 tấn vàng. Xét về giá trị, nhu cầu vàng thế giới giảm 50,5 tỷ USD, giảm 16% so với cùng kỳ năm ngoái.

Báo cáo của WCG chỉ ra, trong quý I, tổng đầu tư vàng thỏi và vàng xu của Việt Nam là 14,2 tấn, giảm 18% so với cùng kỳ năm 2012 là 17,4 tấn. Trong khi đó, nhu cầu với vàng trang sức là 4,4 tấn, giảm 12% so với quý I/2012. Nhu cầu vàng thỏi và trang sức nói chung đạt 18,6 tấn, giảm 17% so với mức 22,4 tấn cùng kỳ năm ngoái.
 
Xét về giá trị, đầu tư vàng thỏi và vàng xu quý I/2013 của Việt Nam đạt 745 triệu USD, giảm 21% so với cùng kỳ năm 2012, giá trị mua vàng trang sức cũng giảm còn 229 triệu USD, từ 269 triệu USD năm ngoái. Tính chung, giá trị đầu tư vàng quý I của Việt Nam đạt 974 triệu USD, giảm 20% so với năm ngoái.

Trong vòng 12 tháng kết thúc vào cuối quý I/2013, nhu cầu vàng trang sức của Việt Nam là 10,8 tấn, tương ứng giảm 13% so với 12 tháng kết thúc vào cuối quý I/2012. Trong khi đó, nhu cầu vàng thỏi, vàng xu đạt 62,2 tấn, giảm 32%.

So với khu vực, trong khi các thị trường như Ấn Độ, Trung Quốc , Hong Kong, Đài Loan tăng nhu cầu đầu tư vàng trang sức và vàng thỏi, vàng xu, thì nhu cầu tại Việt Nam giảm với lý do được cho là thu nhập khả dụng của người dân giảm và sự kiểm soát của Chính phủ đối với thị trường vàng.

Hai vùng động lực thu hút hơn 80% dự án FDI 

Hai vùng kinh tế động lực phía Bắc và phía Nam, với Hà Nội và TP.HCM là 2 trung tâm, đã thu hút 377 dự án có tổng vốn đăng ký 2 tỷ USD, chiếm trên 80% số dự án và hơn 25% tổng vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam trong 4 tháng đầu năm nay (kể cả tăng vốn).

Cả 11 tỉnh, thành phố thuộc 2 vùng này đều có dự án mới. Trong đó, dẫn đầu về vốn là Bình Dương đạt 573 triệu USD, dẫn đầu về số dự án là TP.HCM với 131 dự án, nhưng đặc biệt, dẫn đầu về quy mô dự án lại là Vĩnh Phúc với 257 triệu USD của 3 dự án mới cấp phép.

Như vậy, trừ Vĩnh Phúc, hầu hết những dự án đầu tư vào 2 vùng kinh tế động lực phía Bắc và phía Nam trong hơn 4 tháng gần đây đều thuộc loại vừa và nhỏ, bình quân đạt khoảng 5,4 triệu USD/dự án. Dự án vừa và nhỏ có lợi thế là nhanh chóng đi vào hoạt động, phát huy hiệu quả, sớm mang lại lợi ích cho nhà đầu tư và kinh tế - xã hội từng địa phương. Đó cũng là biểu hiện nỗ lực vươn lên của các nhà đầu tư trong bối cảnh kinh tế suy giảm.

Từ 1/7, thu nhập trên 9 triệu đồng/tháng mới nộp thuế thu nhập cá nhân

Theo Bộ Tài chính, các văn bản hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân cũng đang được gấp rút hoàn thiện.

Theo tính toán của cơ quan thuế, đến thời điểm Luật mới có hiệu lực (1/7/2013), dự kiến hơn 2 triệu người đang nộp thuế thu nhập từ tiền lương tiền công, từ kinh doanh ở bậc 1, bậc 2 sẽ không thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân, người nộp thuế ở bậc 3, bậc 4 cũng giảm số thuế nộp đáng kể.
Việc giảm nghĩa vụ thuế cơ bản là do mức giảm trừ gia cảnh đối với bản thân người nộp thuế được nâng từ 4 triệu đồng/tháng lên 9 triệu đồng/tháng và với mỗi người phụ thuộc là từ 1,6 triệu đồng tháng lên 3,6 triệu đồng/tháng.

Xuất khẩu gạo đạt 2,226 triệu tấn
 
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, tính đến ngày 9/5, Việt Nam đã xuất khẩu 2,226 triệu tấn gạo, trị giá 1.014 triệu USD. Hiện giá lúa khô tại kho khu vực ĐBSCL loại thường dao động từ 4.950-5.050 đ/kg, lúa dài khoảng 5.150-5.250 đ/kg. Giá gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm hiện khoảng 6.600-6.700 đ/kg tùy từng địa phương. Gạo nguyên liệu làm ra gạo 25% tấm là 6.450-6.550 đ/kg tùy chất lượng và địa phương. Giá gạo thành phẩm 5% tấm không bao bì tại mạn hiện khoảng 7.550-7.650 đ/kg, gạo 15% tấm 7.300-7.400 đ/kg, gạo 15% tấm 7.300 – 7.400 đ/kg và gạo 25% tấm khoảng 7.050-7.150 đ/kg tùy chất lượng và địa phương. 

Đưa mặt hàng quặng vào Danh mục  rủi ro hàng hóa XNK cấp Cục
 
Để đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng XK có thuế, đặc biệt là mặt hàng quặng, Tổng cục Hải quan đã có công văn yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, điều chỉnh Danh mục rủi ro hàng XNK cấp Cục và mức giá keierm tra kèm theo. Theo đó, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố phải rà soát xây dựng, bổ sung, sửa đổi Danh mục rủi ro hàng XK và mức giá kiểm tra kèm theo đối với các mặt hàng quặng có làm thủ tục XK tại địa phương trên cơ sở thu thập các nguồn thông tin theo quy định. Bên cạnh đó, Tổng cục yêu cầu các đơn vị để sửa đổi, bổ sung Danh mục rủi ro hàng XK và mức giá kiểm tra kèm theo đối với mặt hầng quặng XK phù hợp với sự biến động giá cả thị trường và tình hình thực tế XK tại địa phương. 

Sắp cấp mã số thuế cho người phụ thuộc

Cơ quan thuế sẽ cấp mã số thuế cho người phụ thuộc nhằm tránh gian lận thuế trong quá trình kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân.

Thông tin này được Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế - Tổng cục thuế (Bộ Tài chính) đưa ra tại hội thảo Hướng tới thực thi hiệu quả Luật thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) do Tạp chí Tài chính tổ chức sáng 16/5.

Theo ông Thông tư hướng dẫn Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế TNCN ban hành tới đây sẽ quy định cấp mã số thuế cho người phụ thuộc từ 1/7 nhằm kiểm soát và tránh gian lận thuế. 

Hà Lan đầu tư gần 6 tỷ USD vào Việt Nam

Kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, Hà Lan luôn nằm trong số các nước đứng đầu Liên minh châu Âu (EU) về viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học - công nghệ, quy hoạch và quản lý nguồn nước, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, vệ sinh môi trường, nông nghiệp và nông thôn, hỗ trợ kỹ thuật phát triển tăng trưởng xanh và bền vững...

Đến nay, Hà Lan có 160 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt xấp xỉ 6 tỷ USD.
Hà Lan hiện là 1 trong 5 đối tác thương mại hàng đầu của TPHCM trong khối EU.

Ngoài ra, TPHCM cũng nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức và địa phương của Hà Lan trong quản lý môi trường nước, chống ngập, thích ứng và giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu.

Xuất khẩu cá tra có thêm thị trường mới

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt nam (VASEP), xuất khẩu cá tra Việt Nam trong quý I/2013 lại tiếp tục gặp khó khăn khi giá trị xuất khẩu chỉ đạt 388,4 triệu USD, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm ngoái. 

Những khó khăn của thị trường xuất khẩu truyền thống khiến các doanh nghiệp phải mở rộng thị trường sang các nước có nền kinh tế mới nổi với sức tiêu thụ và khả năng nhập khẩu cao. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn môi trường cũng ngày càng được các thị trường chú ý nhiều hơn. Ấn Độ là một trong những thị trường mới đầy tiềm năng hiện nay. 

Trong 3 năm gần đây xuất khẩu cá tra sang Ấn Độ tăng mạnh do cá tra được ưa chuộng tại các nhà hàng tại nước này. Nguyên nhân là do cá tra có nguồn cung lớn, có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon nhưng giá cả chỉ bằng một nửa so với nhiều loài cá tại Ấn Độ. 

Châu Phi- miền đất hứa cho thủy sản VN

Tại hầu hết các quốc gia khu vực châu Phi, ngành nuôi trồng thuỷ sản, nhất là cá nước ngọt không phát triển do đó phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước. Trong khi đó, nguồn cung cá tra trong nước dồi dào với mức giá ổn định là điều kiện thuận lợi để các DN Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang khu vực này. Thực tế cho thấy, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng như cá basa, tra, tôm sang thị trường khu vực đã không ngừng tăng trong những năm qua. Cụ thể, năm 2012, Việt Nam đã xuất khẩu mặt hàng này sang 25 nước châu Phi với kim ngạch đạt gần 150 triệu USD, tăng 38% so với năm 2011. Chỉ tính riêng quý I/2013, giá trị xuất khẩu hàng thủy sản sang châu Phi đạt 30,3 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái.

Người dân Châu Phi đang có xu hướng dùng hàng thủy sản thay thế cho thịt trong bữa ăn. Đây chính là cơ hội cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này, thậm chí có thể nghiên cứu phương án nuôi trồng thủy sản tại nước sở tại phục vụ nhu cầu địa phương và xuất khẩu sang các nước lân cận.

10 ngành hàng xuất – nhập khẩu nhiều nhất 4 tháng năm 2013

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước trong 4T.2013 đạt gần 79 tỷ USD. Trong đó, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI đạt khoảng 45,317 tỷ USD, còn khối các doanh nghiệp trong nước đạt khoảng 33,682 tỷ USD, lần lượt chiếm hơn 57% và khoảng 43% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước.

Trong 4T.2013 khối các doanh nghiệp FDI xuất siêu tới hơn 1,169 tỷ USD nhưng cũng không “gánh” nổi con số nhập siêu lên tới 1,892 tỷ USD của khối doanh nghiệp trong nước, khiến cả nước phải nhập siêu tới 723 triệu ÚSD (trong khi tại thời điểm Q1.2013, cũng nhờ khối doanh nghiệp FDI, cả nước xuất siêu đạt trên 278 triệu USD).

Xuất khẩu

Tại thời điểm 4T.2013, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt khoảng 39,138 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ  năm trước. Riêng trong T4.2013, kim ngạch xuất khẩu đạt 10,033 tỷ USD, giảm 4,5% so với tháng trước.

So với thời điểm Q1.2013, vị trí các mặt hàng/nhóm mặt hàng xuất khẩu trong Top 10 không có sự thay đổi. Nhóm các mặt hàng Điện thoại-máy móc-phương tiện vận tải-linh kiện vẫn chiểm tới 5 vị trí trong Top 10.

Điện thoại các loại và linh kiện tiếp tục là nhóm mặt hàng có giá trị xuất khẩu nhiều nhất với 5,966 tỷ USD, cũng làm nhóm ngành có tốc độ tăng cao nhất so với cùng kỳ năm trước (97%). Tiếp theo là nhóm mặt hàng dệt may (4,990 tỷ USD); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (3,126 tỷ USD);…

10 ngành hàng xuất khẩu có giá trị cao nhất 4T.2013
STT
Mặt hàng, nhóm mặt hàng
Kim ngạch xuất khẩu
Giá trị (triệu USD)
So với cùng kỳ năm trước (%)
1
Điện thoại các loại và linh kiện
5.966
97,0
2
Hàng dệt may
4.990
18,0
3
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
3.126
44,5
4
Dầu thô
2.378
2,1
5
Giày dép các loại
2.358
14,2
6
Phương tiện vận tải và phụ tùng
1.807
18,5
7
Hàng thủy sản
1.727
-3,5
8
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
1.690
-1,6
9
Gỗ và sản phẩm gỗ
1.579
13,1
10
Cà phê
1.262
-13,9

Trong Top 10 có 3 mặt hàng/nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước, thì có tới 2 mặt hàng thuộc nhóm các mặt hàng nông-lâm-thủy sản, đó là hàng thủy sản (giảm 3,5%) và cà phê (giảm 13,9%)

Nhập khẩu

Tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước trong 4T.2013 đạt khoảng 39,861 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sự đóng góp của riêng T4.2013 là 10,696 tỷ USD, giảm 0,9% so với tháng trước.

So với thời điểm Q1.2013, vị trí của các mặt hàng/nhóm mặt hàng trong Top 10 nhập khẩu chỉ có một sự thay đổi, đó là sự hoán đổi vị trí (9) và (10) giữa mặt hàng kim loại thường khác với nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu.

Nhóm mặt hàng có giá trị nhập khẩu nhiều nhất trong 4T.2013 vẫn là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với 5,574 tỷ USD. Đứng thứ hai là nhóm mặt hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 5,430 tỷ USD. Mặc dù nhóm mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện đứng thứ 3, song tốc độ tăng trưởng của nhóm mặt hàng này lại đạt cao nhất với 92,6%.

10 ngành hàng nhập khẩu có giá trị cao nhất 4T.2013
STT
Mặt hàng, nhóm mặt hàng
Kim ngạch nhập khẩu
Giá trị (triệu USD)
So với cùng kỳ năm trước (%)
1
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
5.574
61,0
2
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
5.430
10,0
3
Điện thoại các loại và linh kiện
2.318
92,6
4
Xăng dầu các loại
2.357
-22,9
5
Vải các loại
2.387
16,1
6
Sắt thép các loại
2.253
12,6
7
Chất dẻo nguyên liệu
1.710
14,5
8
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày
1.081
13,4
9
Kim loại thường khác
0,915
18,5
10
Thức ăn gia súc và nguyên liệu
0,911
50,1

Xuất - nhập khẩu của Việt Nam sẽ có nhiều điểm sáng năm 2013

Các nền kinh tế châu Âu và Mỹ đang trên đà khôi phục là thuận lợi quan trọng cho xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2013, nhờ vậy, hàng tồn kho sẽ không còn là vấn đề đáng lo ngại.

Trong điều kiện tăng trưởng kinh tế và thương mại thế giới không được như mong đợi, thị trường nhập khẩu hàng hóa Việt Nam bị thu hẹp, các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước gặp khó khăn phải thu hẹp quy mô sản xuất nhưng tăng trưởng xuất khẩu năm 2012 vẫn đạt trên 16% (vượt mức 13 - 14% kế hoạch đề ra). Đây là một trong những thành tích đáng kể của kinh tế Việt Nam 2012.

Sang năm 2013, các nền kinh tế châu Âu và Mỹ đang trên đà khôi phục là thuận lợi quan trọng cho xuất khẩu của Việt Nam, thêm vào đó, sự sụt giảm tăng trưởng của hai nền kinh tế là Ấn Độ và Trung Quốc cũng tạo ra một lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam trong việc xuất khẩu khi nhân công và chi phí đầu vào của Việt Nam được đánh giá là thấp hơn 2 - 2,5 lần so với Ấn Độ, Trung Quốc. Dòng vốn đầu tư FDI, ODA vào Việt Nam trong năm 2013 có nhiều triển vọng tăng cao hơn năm 2012 sẽ giúp cho kinh tế Việt Nam, nền kinh tế còn phục thuộc nhiều vào đầu tư khởi sắc.

Tại buổi công bố dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2013, hôm nay, ngày 7/12, TS. Lương Văn Khôi, Trưởng Ban Kinh tế thế giới, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, năng lực sản xuất của các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ được cải thiện trong năm 2013 nhờ các ưu tiên cứu trợ trong chính sách trợ giúp doanh nghiệp của Chính phủ. Thêm vào đó, thị trường xuất khẩu của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chủ yếu cũng là nhóm hàng tiêu dùng như gạo, cà phê, chè… và giá các mặt hàng này trên thị trường thế giới đang có chiều hướng tăng, do đó tăng trưởng xuất khẩu tiếp tục ổn định trong năm 2013.

Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu năm 2013 cũng gặp phải không ít khó khăn khi mà nền kinh tế thế giới năm 2013 được dự báo là có tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2012 nhưng không nhiều, và vào những tháng cuối năm lại có xu hướng điều chỉnh dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2013 giảm so với trước đó (từ mức 3,9% xuống 3,4%). Điều đó chứng tỏ nền kinh tế thế giới vẫn đang chứa đựng nhiều rủi ro. Đặc biệt, hai đối tác nhập khẩu quan trọng của Việt Nam là Hoa Kỳ có tốc độ tăng trưởng được dự báo chỉ nhỉnh hơn năm trước, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản được dự báo sụt giảm hơn sẽ gây tác động không nhỏ đến xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2013.

Cùng với đó, hiện Việt Nam đang thực hiện xóa bỏ và giảm thiểu các trợ cấp xuất khẩu theo cam kết gia nhập WTO, trong khi việc sử dụng các hàng rào bảo hộ kĩ thuật có thể khiến cho hàng xuất khẩu Việt Nam mất đi những lợi thế cạnh tranh tương đối. Và dù rằng kinh tế châu Âu và Mỹ có dấu hiệu phục hồi nhưng các bảo hộ thương mại có xu hướng được sử dụng nhiều hơn sẽ là rào cản lớn đối với hàng hóa Việt Nam vào hai nền kinh tế lớn này, vì vậy chính phủ các nước có khả năng dè dặt trong việc nhập khẩu hàng hóa và nhu cầu có tăng nhưng sẽ không tăng cao. Riêng với nhập khẩu, nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất và hàng tiêu dùng tăng cao khi nền kinh tế có dấu hiệu khởi sắc. Tuy nhiên, những yếu tố rủi ro của kinh tế thế giới cũng như khó khăn của kinh tế Việt Nam sẽ gây tác động tiêu cực đến hoạt động nhập khẩu năm 2013.

Với sự phục hồi của xuất nhập khẩu, dự báo năm 2013 kim ngạch xuất khẩu (giá FOB) đạt 129,498 tỷ USD, nhập khẩu (giá FOB) tăng đạt 132,836 tỷ USD, cán cân thương mại của Việt Nam sẽ thâm hụt (-) 3,328 tỷ USD năm.

Như vậy, nhờ khả năng xuất khẩu sẽ tăng trong năm 2013 mà tình hình tồn kho thành phẩm của các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất trong nước sẽ không đáng ngại, thậm chí TS. Lương Văn Khôi còn nghi ngờ con số hàng tồn kho được đưa ra thời gian qua. Bởi theo điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh tại Việt Nam tiến hành trong quý III/2012. Trong số 910 doanh nghiệp được điều tra khảo sát thì có tới 66,4% cho rằng tồn kho thành phẩm xét theo khối lượng của doanh nghiệp là bình thường, chỉ có 15,1% cho rằng trên mức bình thường, trong đó có 9,1% đánh giá ở mức dưới mức bình thường. Có thể nói, tồn kho trong lĩnh vực bất động sản mới chiếm phần lớn lượng tồn kho chung, còn thực sự tồn kho trong nền kinh tế Việt Nam không quá nguy cấp như chúng ta tưởng.

Quí I/2013: giao dịch thương mại tập trung vào những thị trường lớn

Xuất, nhập khẩu và xuất, nhập siêu có tác động lớn đến nền kinh tế. Trong quý I/2013, có 12 thị trường nằm trong danh sách xuất, nhập khẩu và xuất, nhập siêu lớn nhất của Việt Nam và điều này cho thấy sự tập trung đáng kể trong quan hệ thương mại giữa nước ta và các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Dẫn nguồn tin từ Chinhphu.vn, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào 5 thị trường lớn nhất, cũng là các nền kinh tế có quy mô lớn nhất thế giới, đạt 13.778 triệu USD, chiếm 46,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

5 thị trường xuất khẩu lớn nhất và nhập khẩu nhiều nhất của Việt Nam trong quý I/2013

ĐVT: Triệu USD

Thị trường
Xuất khẩu
Kim ngạch


Mỹ4.896
Nhật Bản3.123
Trung Quốc2.937
Hàn Quốc1.655
Đức1.167
Nhập khẩu
Trung Quốc7.416
Hàn Quốc4.716
Nhật Bản2.440
Đài Loan2.001
Thái Lan1.384
(Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê)

Cụ thể, trong quý I/2013 các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất vào thị trường Mỹ lượng hàng hoá ước đạt 4,9 tỷ USD, là tín hiệu khả quan để cả năm vượt qua mốc 22 tỷ USD. Đây cũng là thị trường Việt Nam liên tục ở vị thế xuất siêu và mức xuất siêu lớn nhất trong các thị trường (năm 2012 đạt gần 15 tỷ USD, khả năng năm 2013 sẽ đạt cao hơn).

Với quy mô và tốc độ tăng của quý I, dự đoán cả năm nay xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc có thể vượt qua mốc 15 tỷ USD. Đáng chú ý, từ 2001 đến nay Việt Nam lại nhập khẩu từ thị trường này với quy mô lớn và tăng nhanh trong đó quý I/2013 là 4,5 tỷ USD, khả năng cả năm có thể đạt khoảng 20 tỷ USD.

Tại Nhật Bản, với quy mô và tốc độ tăng của quý I/2013, khả năng cả năm các doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu lượng hàng sang thị trường này vượt mốc 15 tỷ USD nhưng với diễn biến tỷ giá VND/Yên Nhật đã giảm nhanh từ 260-270 đồng/Yên xuống còn trên dưới 210 đồng/Yên trong mấy tháng qua đã làm cho xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản có xu hướng tăng chậm lại và xuất siêu sẽ thấp hơn năm trước.

Hàn Quốc là thị trường có một số điểm đáng quan tâm khi hết quý I/2013, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đã đạt gần 1,7 tỷ USD, tăng 42,6% so với cùng kỳ năm trước, nên khả năng cả năm sẽ vượt qua mốc 7 tỷ USD. Trong khi đó nhập siêu từ thị trường này 3 tháng đầu năm 2013 là gần 3,1 tỷ USD, khả năng cả năm có thể thấp hơn năm trước, vì xuất khẩu tăng cao hơn nhập khẩu.

Ở EU, Anh và Đức là hai thị trường nhập khẩu lớn của Việt Nam và chúng ta đang ở vị thế xuất siêu. Trong quý I năm nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất siêu vào thị trường Đức 432 triệu USD (năm 2012 là 1.718 triệu USD), con số tương tự ở Anh là 722 triệu USD. Dự kiến cả năm 2013 kim ngạch xuất khẩu sang Anh có thể vượt 3,5 tỷ USD, cao hơn kỷ lục đã đạt vào năm trước (3,034 tỷ USD).

5 thị trường xuất siêu và nhập siêu nhiều nhất trong quý I/2013

Thị trườngKim ngạch
Xuất siêu
Mỹ3.649
UAE877
Anh722
Cămpuchia571
Hongkong554
Nhập siêu
Trung Quốc4.478
Hàn Quốc3.061
Đài Loan2.548
Singapore710
Thái Lan591
(Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê)

5 thị trường mà Việt Nam nhập khẩu lớn nhất - Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Thái Lan - có kim ngạch đạt 18.157 triệu USD, chiếm tới 61,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, hoàn toàn nằm ở châu Á, có lợi thế về giá cả rẻ, gần về khoảng cách nên chi phí vận chuyển thấp... Tuy nhiên, trình độ kỹ thuật-công nghệ của một số nước không phải là công nghệ nguồn, thậm chí còn là công nghệ thải loại sau quá trình đổi mới công nghệ của họ. Đây là một cảnh báo cần thiết để Việt Nam tránh bị biến thành bãi thải công nghệ.

Đáng chú ý, nhiều thị trường có quy mô không lớn nhưng lại có kim ngạch nhập khẩu hàng hoá Việt Nam lớn như Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất trong quý I/2013 nhập khẩu cao gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm 2012, giúp Việt Nam đạt mức xuất siêu 877 triệu USD. Campuchia là thị trường ít người nghĩ đến, quý I lại đứng trong tốp 10 thị trường nhập khẩu lớn nhất trong 3 tháng đầu năm với kim ngạch 792 triệu USD. Mặc dù tốc độ tăng của quý này không cao, nhưng khả năng cả năm sẽ vượt qua mốc 3 tỷ USD và vượt qua kỷ lục đã đạt được trong năm trước (2.831 triệu USD).


Hong Kong là thị trường nằm trong tốp 7 trong năm 2012 và quý I đứng thứ 11, nhưng so với cùng kỳ năm trước đã tăng khá, cao hơn tốc độ chung của 10 thị trường và cao hơn tốc độ tăng của tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Với tốc độ này, khả năng cả năm sẽ vượt qua mốc 3,7 tỷ USD của năm trước.

Đài Loan (Trung Quốc) là nhà đầu tư FDI lớn hàng đầu, là thị trường có nhiều lao động Việt Nam sang làm việc và có nhiều du khách đến Việt Nam. Trong quan hệ buôn bán, Việt Nam ở vị thế nhập siêu lớn (quý I lên đến 1.548 triệu USD, khả năng cả năm 2013 có thể vượt qua 7 tỷ USD).

Thái Lan là thị trường lớn thứ 9 về xuất khẩu, lớn thứ 5 về nhập khẩu và thứ 5 về nhập siêu trong quan hệ với Việt Nam. Xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan quý I đã đạt 793 triệu USD, nhập khẩu đạt 1.384 triệu USD. Singapore là thị trường nhập khẩu lớn thứ 6, cũng là nước mà Việt Nam nhập siêu đứng thứ 4, khả năng cả năm 2013 có thể vượt 3 tỷ USD.

Theo Bộ Công Thương

Doanh nghiệp thủy sản kêu trời vì phí và cước

Hiệp hội Chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) vừa liên tiếp gửi văn bản tới bộ, ngành liên quan đề nghị giảm cước phí vận tải biển cũng như phí kiểm dịch. Vasep cho rằng việc tăng phí và tăng cước vận tải biển quá cao, nhiều doanh nghiệp nắm chắc phần thua lỗ trong các hợp đồng đã ký với khách hàng từ năm trước…

Cước đã cao lại còn đột biến

Theo Vasep, giá cước vận tải biển Việt Nam những năm gần đây vẫn thường cao hơn so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippines... từ 10 - 15%/container 20 feet. Thế nhưng từ ngày 1.4, phụ phí cước vận chuyển (GRI - General Rate Increase) sẽ được áp dụng với giá là 400USD/TEU (container 20 feet) cho hàng hóa từ Việt Nam đến Châu Âu; từ ngày 1.5 phụ phí GRI sẽ được áp dụng với giá là 400USD/TEU từ Việt Nam đến Mỹ. Như vậy, theo Vasep chỉ trong vòng 3 tháng, giá cước vận tải biển tăng rất cao với mức tăng khủng từ 640 - 1.200USD/container 20 feet.
Hiện EU và Mỹ là 2 thị trường lớn nhất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam. Năm 2011, giá trị xuất khẩu vào EU và Mỹ chiếm gần 42% tổng giá trị xuất khẩu. Do đó, việc tăng cước vận tải biển từ Việt Nam đi 2 thị trường này sẽ tác động rất lớn đến kế hoạch kinh doanh của các DN, khiến các chủ hàng bị động trong thực hiện các hợp đồng ngoại thương.

“Chi phí tăng đồng nghĩa với cơ hội cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam giảm. Việc tăng cước vận tải biển hiện nay đang gây bức xúc lớn cho các DN Việt Nam vì mức tăng quá cao, nhiều DN nắm chắc phần thua lỗ trong các hợp đồng đã ký với khách hàng từ năm trước do nhiều yếu tố tác động, bao gồm cả giá cước vận tải biển” - ông Trương Đình Hòe (Tổng Thư ký Vasep) bức xúc.

Phí vù lên 300%

Không chỉ kêu về cước, tại văn bản khác vừa gửi tới Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ NNPTNT, Vasep cho hay, ngày 5.1.2012, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư số 04/2012/TT-BTC (TT 04) quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong công tác thú y và có hiệu lực từ ngày 1.3.2012.

Gần 1 tháng thực hiện, hàng loạt DN thủy sản đã kêu trời cho hay, mức phí kiểm dịch lô hàng tăng quá cao, lên tới mức trên 300% so với quy định cũ tại thông tư 199/2010/TT-BTC ngày 13.12.2010 của Bộ Tài chính (TT 199). Cụ thể, theo quy định tại TT 199, phí kiểm dịch được tính theo lô hàng, bất kể lô hàng lớn hay nhỏ có từ 1 hoặc nhiều container trở lên, không tính theo trọng lượng, áp dụng chung đối với cả lô hàng nhập khẩu cũng như lô hàng xuất khẩu, với mức phí chung là 285.000 đồng/lô hàng.

Còn theo quy định mới thì mức phí kiểm dịch được phân thành 2 cấp và được quy định cũng theo lô hàng nhưng lô hàng có ấn định trọng lượng cụ thể theo số lượng tấn. Cụ thể mức phí kiểm dịch là 400.000 đồng/lô hàng từ 12 - 24 tấn và 200.000 đồng/lô hàng dưới 12 tấn. Như vậy nếu DN nhập lô hàng lớn, đóng trong nhiều container sẽ càng phải đóng phí “khủng”. Cụ thể, với lô hàng có 1 container 24 tấn, DN phải đóng phí kiểm dịch 400.000 đồng, tăng hơn 40% so với mức cũ 285.000 đồng. Nếu lô hàng có 2 container 48 tấn thì phí kiểm dịch 800.000 đồng trong khi mức cũ cũng chỉ 285.000 đồng, tức chịu phí tăng trên 180%. Và nếu lô hàng có 3 container 72 tấn thì phí kiểm dịch 1.200.000 đồng - tăng trên 321%. Tóm lại lô hàng càng lớn, thì mức phí sẽ tăng gấp nhiều lần do có nhiều container.

Theo ông Hòe, DN thủy sản lại đang gặp khổ ải vì vốn bị thắt chặt, hàng loạt chi phí đầu vào đều tiếp tục tăng từ 10-35% so với năm 2011 điện, nước, lương, nguyên liệu thủy sản, chi phí kiểm nghiệm, xăng dầu, bao bì... Nên nay lại xuất hiện thêm việc tăng phí kiểm dịch lô hàng theo quy định tại TT 04 đang ảnh hưởng rất lớn tới sức cạnh tranh của các DN. Ngoài ra, việc kiểm dịch lô hàng thủy sản đông lạnh nhập khẩu theo TT 04 thực tế chỉ là kiểm tra cảm quan, không có hoạt động gì mới so với trước, nên việc tăng phí kiểm dịch lô hàng theo quy định mới phân theo trọng lượng container là chưa hợp lý.

Châu Phi - miền đất hứa cho thủy sản VN

Người dân Châu Phi đang có xu hướng dùng hàng thủy sản thay thế cho thịt trong bữa ăn. Đây chính là cơ hội cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này, thậm chí có thể nghiên cứu phương án nuôi trồng thủy sản tại nước sở tại phục vụ nhu cầu địa phương và xuất khẩu sang các nước lân cận.

Tại hầu hết các quốc gia khu vực châu Phi, ngành nuôi trồng thuỷ sản, nhất là cá nước ngọt không phát triển do đó phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước. Trong khi đó, nguồn cung cá tra trong nước dồi dào với mức giá ổn định là điều kiện thuận lợi để các DN Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang khu vực này. Thực tế cho thấy, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng như cá basa, tra, tôm sang thị trường khu vực đã không ngừng tăng trong những năm qua. Cụ thể, năm 2012, Việt Nam đã xuất khẩu mặt hàng này sang 25 nước châu Phi với kim ngạch đạt gần 150 triệu USD, tăng 38% so với năm 2011. Chỉ tính riêng quý I/2013, giá trị xuất khẩu hàng thủy sản sang châu Phi đạt 30,3 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái.

Mặt hàng thủy sản ngày càng được ưa chuộng ở Châu Âu
Mặt hàng thủy sản ngày càng được ưa chuộng ở Châu Âu
Nhiều cơ hội nhưng đầy khó khăn

Do khoảng cách địa lý, giao thông không thuận lợi, vận chuyển bằng đường biển mất khá nhiều thời gian, thiếu đường bay trực tiếp nên việc xuất khẩu hàng thủy sản tươi sống gặp nhiều khó khăn. Nhiều quốc gia châu Phi có bờ biển dài, có lợi thế nguồn cung hải sản tại chỗ lớn nên nhu cầu tiêu thụ thuỷ sản đóng hộp và đông lạnh không cao.

Mặc dù có tiềm năng phát triển nhưng dung lượng thị trường thủy sản tại khu vực này nhìn chung không lớn và việc đẩy mạnh xuất khẩu đòi hỏi phải có thời gian tuyên truyền, quảng bá.

Trong khi đó, khả năng thanh toán của phần lớn các DN nhập khẩu châu Phi thấp và đôi khi vẫn xảy ra tình trạng lừa đảo thương mại qua mạng internet ở một số quốc gia Tây Phi dẫn đến tâm lý lo ngại khi DN Việt Nam tiếp cận thị trường này.

Khó khăn nữa mà DN Việt Nam gặp phải đó là một số quốc gia như Maroc, Ai Cập, Angiêri, Nigeria... áp dụng mức thuế nhập khẩu cao, đòi hỏi một số giấy tờ thủ tục như xác nhận lãnh sự (Ai Cập), giấy chứng nhận của Tổ chức tiêu chuẩn Nigeria (SONCAP) đối với các loại thủy sản nhập khẩu.

Tuy nhiên, không phải khó khăn chỉ riêng từ phía châu Phi mà một phần do DN Việt Nam. Một số DN Việt Nam đã không nghiêm túc trong việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu như giao hàng kém chất lượng, làm mất uy tín với khách hàng.

Đối với hợp đồng thương mại, các điều khoản trong hợp đồng do phía Việt Nam soạn thảo thường rất sơ sài, không nêu rõ trách nhiệm của mỗi bên khi ký kết nên dễ bị đối tác gây khó khăn khi có tranh chấp xảy ra.

Đảm bảo chất lượng hàng ổn định

Khi kinh doanh mặt hàng thủy sản vào khu vực thị trường châu Phi, Vụ Thị trường châu Phi, Tây Á, Nam Á lưu ý, DN Việt Nam cần đảm bảo chất lượng hàng hóa xuất khẩu luôn ổn định để giữ chữ tín với khách hàng.

Bên cạnh đó, chủ động liên hệ với các Thương vụ Việt Nam ở châu Phi như Angiêri, Ai Cập, Maroc, Nam Phi, Nigeria để tìm hiểu thông tin thị trường và đối tác nhập khẩu. Hạn chế việc tìm kiếm và giao dịch với khách hàng chưa quen biết qua mạng internet.

Tích cực tham gia các đoàn khảo sát thị trường, xúc tiến thương mại, các hội chợ triển lãm quốc tế chuyên ngành, các hội thảo, diễn đàn doanh nghiệp do các cơ quan xúc tiến thương mại trong nước tổ chức để tìm được những đối tác tin cậy.

Có sự liên kết, thống nhất về giá để xây dựng mạng lưới phân phối tại một số thị trường trọng điểm, tránh tình trạng bán phá giá để giành khách hàng.

Khi đàm phán và ký kết hợp đồng với đối tác châu Phi các DN nên lựa chọn những phương thức giao hàng, thanh toán hợp lý để tránh trường hợp nhà nhập khẩu không nhận hàng để ép giảm giá.- Vụ thị trường Châu Phi khuyến cáo.

Nhiều lô chè xuất khẩu của VN bị trả về

Gần đây, nhiều lô hàng chè của Việt Nam xuất khẩu sang các nước châu Âu đã bị trả về do phát hiện có chứa các chất Acetamiprid và Imidacloprid.
 
Thông tin này được ông Nguyễn Xuân Hồng- Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), Bộ NNPTNT cho biết hôm 6.5. Về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Ánh Hồng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Chè Việt Nam cho biết, việc bị nước nhập khẩu trả lại hàng có doanh nghiệp báo cáo, có doanh nghiệp không, do đó hiệp hội không có con số thống kê chính thức bao nhiêu sản phẩm chè đã bị EU trả lại.


Chè của Việt Nam xuất khẩu sang các nước châu Âu bị trả về
Chè của Việt Nam xuất khẩu sang các nước châu Âu bị trả về
Theo Hiệp hội Chè, trong năm 2012 Việt Nam đã xuất khẩu 145.000 tấn chè đi hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2013 là năm đầu tiên xuất hiện sự cố EU trả lại một số lô hàng do họ mới đưa ra các quy định mới là không chấp nhận có tồn dư 2 hợp chất Acetamiprid và Imidacloprid. “Việc khắc phục tồn dư 2 hợp chất này trong chè không phải một sớm, một chiều có thể làm được.

Vì chè là cây trồng lâu năm, người dân không thể nhổ đi để trồng lứa chè mới, trong khi đó, ngay trong cây chè, trong đất có thể vẫn tồn dư 2 chất này. Với dư lượng theo quy định của EU ngày càng ngặt nghèo hơn và tới đây có thể là các nước khác cũng áp đặt sẽ là những khó khăn cho doanh nghiệp và những người trồng chè” - bà Hồng nói.

Cũng theo bà Hồng, thực tế đây là các loại hợp chất sử dụng để diệt các loại rầy xanh và bọ cánh đỏ trên chè. Để chè đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, cần có thời gian để thay đổi thói quen của người dân không sử dụng 2 hợp chất Acetamiprid và Imidacloprid trong các thuốc BVTV.

Theo ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục BVTV đã có văn bản khuyến cáo người dân không sử dụng các chất này và thay thế bằng các chất khác trên chè, nhằm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. “2 hợp chất Acetamiprid và Imidacloprid theo quy định phải tới năm 2015 mới đưa ra khỏi danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, trước mắt cục đã đưa ra 7 loại hợp chất khác có thể sử dụng thay thế 2 hợp chất này trên cây chè và khuyến cáo tới doanh nghiệp, người trồng chè lựa chọn” - ông Hồng cho hay. 

Doanh nghiệp FDI chiếm gần 100% nhiều hàng hoá xuất khẩu

Trong nhiều mặt hàng thuộc nhóm hàng hoá có kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong 4 tháng đầu năm nay, xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm đến 90-100%, theo số liệu hải quan công bố hôm 15-5.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 39,1 tỉ đô la Mỹ, tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu tăng chủ yếu nhờ các nhóm hàng như điện thoại và linh kiện, dệt may, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện,...

Nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch cao nhất trong 4 tháng/2013 so với 4 tháng/2012
Nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch cao nhất trong 4 tháng/2013 so với 4 tháng/2012
Nguồn: Tổng cục Hải quan.

Trong nhiều mặt hàng có kim ngạch cao thuộc nhóm trên, xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp FDI chiếm phần lớn, đến gần 100%.

Chẳng hạn như, với mặt hàng điện thoại, xuất khẩu của doanh nghiệp FDI chiếm 98,3% với kim ngạch 5,8 tỉ đô la Mỹ. Ngoài ra, xuất khẩu của doanh nghiệp FDI chiếm 96,5% trong nhóm hàng máy vi tính và sản phẩm điện tử (3 tỉ đô la Mỹ), chiếm 91% trong nhóm phương tiện vận tải và phụ tùng (1,6 tỉ đô la Mỹ), và chiếm 88,2% trong nhóm hàng hoá máy móc thiết bị (1,4 tỉ đô la Mỹ).

Đối với hai mặt hàng vốn là thế mạnh xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước, thì doanh nghiệp FDI cũng chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu, là dệt may và giày dép với tỉ lệ lần lượt là 59% (2,9 tỉ đô la Mỹ) và 78% (1,8 tỉ đô la Mỹ).

Hội chợ Hàng nhập khẩu 2013 (IGF 2013) tại Hàn Quốc

Hiệp hội các nhà nhập khẩu Hàn Quốc (KOIMA) dành ưu đãi cho doanh nghiệp Việt Nam tham dự Hội chợ IGF 2013 tại Hàn Quốc.

Hội chợ Hàng nhập khẩu 2013" (Import Goods Fair 2013 – IGF 2013) là sự kiện thường niên và quan trọng do Hiệp hội các nhà nhập khẩu Hàn Quốc (KOIMA) tổ chức nhằm tìm kiếm các nhà xuất khẩu tiềm năng và uy tín của các nước và vùng lãnh thổ vào Hàn Quốc. Hội chợ này được Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc (MOTIE) bảo trợ cùng với sự hỗ trợ của Hiệp hội Ngoại thương Hàn Quốc (KITA), Cơ quan Xúc tiến Thương mại – Đầu tư Hàn Quốc (KOTRA) và Đại sứ quán các nước tại Hàn Quốc.

Năm 2012, Hội chợ IGF có sự tham gia của 163 công ty đến từ 30 nước trên thế giới với 200 gian hàng. Hội chợ đã thu hút tổng cộng hơn 12.000 khách tham quan, trong đó có 5.700 doanh nghiệp mua hàng và 6.300 khách thông thường. Các ngành hàng tham dự Hội chợ bao gồm: thực phẩm và đồ uống, đồ chơi và đồ dùng cho trẻ em, đồ trang trí nội thất, đồ gia dụng và văn phòng, đồ dùng và dụng cụ thể thao, quấn áo, giày dép, đồ quà tặng, mỹ phẩm, dụng cụ, dịch vụ logistics, du lịch,…

Năm 2013, Hội chợ IGF sẽ tiếp tục được tổ chức tại Sảnh A, Trung tâm Triển lãm COEX, Seoul, Hàn Quốc từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 6 năm 2013. Trong khuôn khổ hợp tác giữa Thương vụ Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc và KOIMA, Ban Tổ chức đã nhất trí dành ưu đãi đặc biệt cho các doanh nghiệp Việt Nam với việc giảm 50% tiền thuê gian hàng. Cụ thể, giá thuê một gian hàng tiêu chuẩn tại Hội chợ dành cho các doanh nghiệp Việt Nam sẽ trong khoảng từ 1.000 USD/gian đến 1.100 USD/gian tùy từng loại.

Thương vụ Việt Nam tại Hàn Quốc trân trọng thông báo để các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm có thể đăng ký tham gia. Trong trường hợp doanh nghiệp quan tâm nhưng chưa có điều kiện tham gia, các doanh nghiệp có thể gửi hàng mẫu và tài liệu giới thiệu về sản phẩm và doanh nghiệp để trưng bày tại gian thông tin chung của Thương vụ tại Hội chợ.

Thông tin chi tiết xin liên hệ:
Thương vụ Việt Nam tại Hàn Quốc Địa chỉ: 6th Fl., Golden Bridge bldg., 222 Chungjeongno 3-ga Seodaemun-gu, Seoul, 120 708, Republic of Korea
Tel: + 82-2-364 3661/2;    Fax: + 82-2-364 3664;
Di động: +82-10-4342-6868
Email: kr@moit.gov.vn ; trungct@moit.gov.vn
Người liên hệ: Anh Chu Thắng Trung – Tham tán thương mại

Xuất khẩu sang Nhật gặp khó do đồng Yen mất giá

Việc đồng yen rớt giá, giảm xuống mức hơn 100 yen mới đổi được 1 đô la Mỹ đã khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Nhật gặp khó khăn.

Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online cuối tuần qua, ông Trần Văn Lĩnh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thủy sản và Thương mại Thuận Phước cho biết, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang Nhật đang bị lỗ nặng do tỷ giá chênh lệch giữa đồng yen và đô la Mỹ. Hiện đồng yen đã giảm gần 16% so với thời điểm đầu năm 2013.

Các doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật không những gặp khó khăn về tỷ giá mà các nhà nhập khẩu của Nhật còn c1o xu hướng giảm số lượng nhập do nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thủy sản của người dân giảm sút, giá cả hàng hóa đắt hơn khi đồng yen mất giá. Điều này sẽ ảnh hưởng đến lượng hàng hóa xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước.

Một bất lợi khác với mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là mặt hàng tôm đông lạnh khó có thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của Thái Lan, Banglades, vì giá cả đắt hơn trung bình hơn 2 đô la Mỹ/kg. "Ngoài những bất lợi do chênh lệch tỷ giá, khi chuyển hướng nhập khẩu, các đối tác Nhật sẽ chọn những nhà cung cấp có giá rẻ hơn cũng gây khó cho con tôm của Việt Nam", ông Lĩnh nói.

Xuất khẩu sang Nhật gặp khó do đồng Yên mất giá
Xuất khẩu sang Nhật gặp khó do đồng Yên mất giá
Đại diện một doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật ở TPHCM cũng cho hay, từ đầu tháng 4 đến nay, những đối tác Nhật Bản đã yêu cầu công ty ông giảm giá đơn hàng đã ký để cùng chia sẻ khó khăn do bị lỗ về tỷ giá. Doanh nghiệp buộc phải chấp nhận giảm 5-10% trên mỗi đơn hàng để duy trì công ăn việc làm cho công nhân.

"Ở thời điểm năm ngoái, có những hợp đồng ký trước với đối tác Nhật, chúng tôi chấp nhận thanh toán bằng đồng yen. Hiện đồng yen đan giảm gần 40 đồng so với đầu năm càng làm cho công ty khó khăn hơn", vị giám đốc nói trên cho biết. Vào tháng 12 năm ngoái, khi công ty ký hợp đồng xuất khẩu áo jaket sang Nhật với mức tỷ giá 1 yen đổi được 260 đồng Việt Nam, hiện 1 yen chỉ vào khoản 210 đồng Việt Nam.

Nhà xuất khẩu lo ngại giá gạo giảm sâu

"Mặc dù giá gạo Việt Nam đang thấp hơn nhiều so với giá thế giới nhưng khách hàng vẫn ngại mua vì nghĩ khả năng giảm giá tiếp", ông Phạm Văn Bảy, Phó chủ tịch Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) nhận định.

Chiều ngày 3-5, tại cuộc họp sơ kết tình hình xuất khẩu gạo 4 tháng đầu năm, bàn về giá bán thấp và tình hình tài chính không tốt của doanh nghiệp do VFA) tổ chức,ông Phạm Văn Bảy bày tỏ lo ngại, Việt Nam bán ra nhiều nhưng giao hàng chậm, một số doanh nghiệp do bị áp lực tồn kho và quay vòng vốn nên phải bán giá thấp để giải quyết đầu ra nên hiệu quả kinh tế không cao.

Nhu cầu yếu và khả năng chịu đựng về tài chính thấp là những vấn đề của doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam, theo ông Bảy.

Giá gạo xuất khẩu giao dịch trong tháng 4 giảm khoảng 10-15 đô la Mỹ/tấn so với tháng 3 do thiếu nhu cầu và áp lực bán ra để quay vòng vốn của doanh nghiệp. Giá xuất khẩu bình quân trong 4 tháng cũng giảm mạnh trên 28 đô la Mỹ so với cùng kỳ năm 2012.

Trong tháng 4, các doanh nghiệp xuất khẩu trên 700.000 tấn gạo, tăng 4,81% về khối lượng, trị giá FOB (giao hàng tại mạn tàu) đạt 301,066 triệu đô la Mỹ, tăng 3,89% so với cùng kỳ, nhưng giá bình quân chỉ đạt 429,66 đô la Mỹ/tấn, giảm 3,82 đô la Mỹ so với cùng kỳ. Tính đến hết ngày 30-4, số lượng gạo xuất khẩu đạt 2,15 triệu tấn, tăng 23,49% so với cùng kỳ, đạt kim ngạch 942,4 triệu đô la Mỹ, tăng 16,03% so với cùng kỳ.

Đến hết tháng 5 các doanh nghiệp còn phải giao 2,08 triệu tấn gạo các loại.

Đánh giá tình hình xuất khẩu tháng 4, ông Bảy nhận xét chỉ đạt mức trên trung bình, không đạt kế hoạch đề ra do có nhiều ngày nghỉ lễ, giao hàng chậm so với thời gian ký kết.

Thị trường tiêu thụ chủ yếu vẫn là Trung Quốc, châu Phi, Philippines. Hợp đồng tập trung chỉ chiếm trên 10% của Cuba và Malaysia.

Hướng dẫn thủ tục cấp C/O cho doanh nghiệp lần đầu xin C/O tại VCCI

Bước 1: Đối với doanh nghiệp (DN) lần đầu xin C/O, trước khi chuẩn bị các chứng từ C/O, phải điền đầy đủ Bộ Hồ sơ Thương nhân gồm 3 trang (tải mẫu tại đây hoặc xin tại Bộ phận C/O - Nếu xin C/O tại Chi nhánh VCCI HCM tải mẫu tại đây) và nộp lại cho Bộ phận C/O, VCCI cùng với 1 bản sao của Giấy phép Đăng ký kinh doanh và 1 bản sao của Giấy Đăng ký Mã số thuế của DN.

Bước 2: Sau khi nộp các giấy tờ trên cho VCCI, DN phải chuẩn bị đầy đủ Bộ Hồ sơ xin cấp C/O như sau:

1. Đơn xin cấp C/O: Điền đầy đủ các ô trên đơn và có dấu, chữ ký của người có thẩm quyền của DN  tải tại đây

2. Mẫu C/O (A, B, T, Mexico, Venezuela,…): Người xuất khẩu chỉ được đề nghị cấp một loại Mẫu C/O cho mỗi lô hàng xuất khẩu, trừ Mẫu C/O cà phê có thể đề nghị cấp thêm Mẫu A hoặc Mẫu B (Tùy loại mặt hàng và nước xuất khẩu, cán bộ C/O sẽ tư vấn cho DN mua mẫu C/O nào).

- C/O đã được khai gồm có 1 bản gốc và ít nhất 2 bản sao C/O để Tổ chức cấp C/O và Người xuất khẩu mỗi bên lưu một bản.

Lưu ý: DN phải đánh máy đầy đủ các ô trên Form bằng tiếng Anh, bản chính và bản sao C/O phải có dấu đỏ và chữ ký người có thẩm quyền ký của DN (trừ trên C/O Form T không cần dấu và chữ ký của DN).

3. Commercial Invoice (Hóa đơn thương mại): 1 bản gốc do DN phát hành.

4. Tờ khai Hải quan hàng xuất khẩu: đã hoàn thành thủ tục hải quan (1 bản sao có dấu đỏ, chữ ký người có thẩm quyền ký của DN, và dấu “Sao y bản chính”), trừ các trường hợp hàng xuất khẩu không phải khai báo tờ khai hải quan xuất khẩu theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp có lý do chính đáng, Người xuất khẩu có thể nộp sau chứng từ này.

Nếu xét thấy cần thiết, Tổ chức cấp C/O có thể yêu cầu Người xuất khẩu cung cấp thêm các chứng từ liên quan đến sản phẩm xuất khẩu như:

5. Packing List: 1 bản gốc của DN

6. Bill of Lading (Vận đơn): 1 bản sao có dấu đỏ, chữ ký người có thẩm quyền ký của DN và dấu “Sao y bản chính”

7 Tờ khai Hải quan hàng nhập (1 bản sao): nếu DN nhập các nguyên, phụ liệu từ nước ngoài;

hoặc Hoá đơn gía trị gia tăng mua bán nguyên phụ liệu trong nước: nếu DN mua các nguyên vật liệu trong nước

8. Bảng giải trình Quy trình sản xuất: Đối với DN lần đầu xin C/O hay mặt hàng lần đầu xin C/O phải được DN giải trình các bước sản xuất thành sản phẩm cuối cùng.

Bên cạnh đó, tuỳ từng mặt hàng và nước xuất khẩu, cán bộ C/O sẽ hướng dẫn DN giải trình theo như các mẫu (xem phần "Hướng dẫn giải trình sản phẩm để đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ" và tư vấn các bước giải trình tiếp theo.

9. Các giấy tờ khác: như Giấy phép xuất khẩu; Hợp đồng mua bán; Mẫu nguyên, phụ liệu hoặc sản phẩm xuất khẩu; hoặc các chứng từ khác để chứng minh xuất xứ của sản phẩm.Tuỳ từng mặt hàng và nước xuất khẩu, cán bộ C/O sẽ tư vấn các bước giải trình tiếp theo.

Lefaso hỗ trợ 100% phí tham gia Hội chợ ISF 47 tại Nhật Bản cho các DN da giầy

Thực hiện Chương trình Xúc tiến Thương mại Quốc gia năm 2013 được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt (đợt 2) tại Quyết định số 2383/QĐ-BCT ngày 15 tháng 4 năm 2013, Hiệp Hội Da – Giầy Việt Nam sẽ tổ chức đoàn doanh nghiệp tham gia Hội chợ “International Shoe and Leathergood Fair” lần thứ 47 (ISF 47) diễn ra từ ngày 08/10 đến 10/10/2013 tại Tokyo, Nhật Bản. Cụ thể như sau:

1.Mục tiêu:
- Khai thác thị trường Nhật bản, tăng kim ngạch XK vào thị trường Nhật, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại thông qua việc tham dự hội chợ triển lãm chuyên ngành tại Nhật. Giúp các DN tìm được khách hàng trực tiếp tại thị trường Nhật giảm dần việc xuất khẩu thông qua trung gian nhằm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Thông qua việc tham dự hội chợ giúp các DN nắm bắt và cập nhật các thông tin mới nhất về thị trường và xu hướng giầy dép Nhật bản cũng như  thông tin về các đối thủ cạnh tranh từ đó các DN Việt nam có thể điều chỉnh phù hợp với xu hướng thị trường nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng Nhật bản.
- Quảng bá ngành công nghiệp Da - Giầy Việt nam, xây dựng hình ảnh Việt nam là một quốc gia có nền sản xuất giầy dép uy tín và chất lượng tại thị trường Nhật.
2. Quy mô: 07 doanh nghiệp tham gia gian hàng
3. Thời gian hội chợ: Từ ngày 08/10 đến ngày 10/10/2013
4. Địa điểm: Tokyo, Nhật Bản
5. Ngành hàng: Da Giầy
6. Đối tượng tham gia: Các doanh nghiệp sản xuất giầy dép xuất khẩu
7. Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp tham gia: Doanh nghiệp có năng lực sản
xuất và xuất khẩu giầy dép, các nhà thiết kế giầy dép; các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nguyên phụ liệu giầy dép.
8. Chi phí:
- Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tham gia: 100% chi phí gian hàng (chi phí thuê mặt bằng, thiết kế và dàn dựng gian hàng)
- Chi phí doanh nghiệp tự thu xếp khi tham gia: Chi phí vé máy bay, visa, chi phí khách sạn, chi phí ăn, ở, đi lại và các chi phí liên quan khác.
- Để đảm bảo việc giữ chỗ gian hàng, Doanh nghiệp tham gia đặt cọc 20.000.000 đ. Sau khi kết thúc Hội chợ, Hiệp Hội sẽ hoàn trả chi phí đặt cọc cho doanh nghiệp.
9. Các nghĩa vụ của doanh nghiệp khi tham gia chương trình:
- Doanh nghiệp nắm rõ và tuân thủ đầy đủ qui chế của chương trình.
- Sau khi đi Hội chợ về, doanh nghiệp phải làm báo cáo và gửi về Hiệp Hội.
10. Yêu cầu về Hồ sơ đăng ký tham gia chương trình: Doanh nghiệp tham gia xin gửi:
- Mẫu đăng ký tham gia (theo mẫu gửi kèm)
- 01 bản sao công chứng giấy phép đăng ký dinh doanh
về Hiệp Hội trước ngày 30/5/2013:
Hiệp Hội Da Giầy Việt Nam:
Địa chỉ: 160 Hoàng Hoa Thám, Tây Hồ, Hà nội
Điện thoại: 04-37281562 (liên hệ chị Hương, máy lẻ: 102;  mobile: 098 333 1081), Fax: 04-37281561
Email: nguyenhuong.lefaso@gmail.com